50+ mẫu Phân tích 6 câu thơ cuối đoạn trích Cảnh ngày xuân | Văn mẫu lớp 9

Tổng hợp 50+ bài văn mẫu Phân tích 6 câu thơ cuối đoạn trích Cảnh đẹp ngày xuân được tuyển chọn từ những bài văn hay của học sinh lớp 9 trên cả nước giúp các em học sinh lớp 9 có thêm tài liệu tham khảo từ đó biết cách làm bài Phân tích 6 câu thơ cuối đoạn trích đoạn trích Cảnh ngày xuân dễ hơn.

Đề bài: Phân tích 6 câu thơ cuối đoạn trích “Cảnh ngày xuân” trong “Truyện Kiều” của Nguyễn Du.

Bài giảng: Cảnh ngày xuân – Cô Nguyễn Ngọc Anh (giáo viên )

Dàn ý Phân tích 6 câu thơ cuối đoạn trích Cảnh ngày xuân

1. Mở bài

– Giới thiệu ngắn gọn đoạn trích “Cảnh ngày xuân”.

– Giới thiệu nội dung 6 câu thơ cuối trong đoạn trích.

2. Cơ thể

một. Sáu câu thơ đã diễn tả thành công cảnh chị em Thúy Kiều ra đi trên cái nền thoáng chút buồn của cảnh thu.

– Mặt trời đang dần lặn trong ánh nắng chiều muộn từ từ “tae”.

– Tâm trạng tiếc nuối, hoài niệm, bâng khuâng qua bước chân có chút đa cảm, “dạo chơi”.

– Cảnh sắc thiên nhiên được gợi tả qua những hình ảnh nhỏ nhắn, quen thuộc hơn như “đỉnh tiểu khê”, “dịp cầu nhỏ”.

b. Nghệ thuật miêu tả thiên nhiên trong 6 câu thơ cuối

– Vận dụng thành công bút pháp “tả cảnh ngụ tình”

– Vận dụng thành công hệ thống từ láy dàn đều trong các câu thơ như “ta ta”, “loan”, “nhỏ”, “thanh thanh”, “nao nao”.

– “Dù”: gợi nỗi buồn của cảnh vật và con người, đồng thời thể hiện dự cảm về cuộc gặp gỡ sắp tới của Thúy Kiều và chàng Kim.

3. Kết luận

Đánh giá giá trị nội dung và nghệ thuật của tác phẩm.

Phân tích 6 câu thơ cuối đoạn trích Cảnh ngày xuân – văn mẫu 1

Cảnh ngày xuân” là một trong những đoạn trích đặc sắc thể hiện rõ tài năng nghệ thuật của tác giả Nguyễn Du trong việc miêu tả thiên nhiên. Nếu như ở những câu thơ đầu, tác giả đã làm nổi bật bức tranh mùa xuân tươi trong, tràn đầy sức sống trong buổi sáng, Ở 6 câu thơ cuối, cùng với sự thay đổi, trôi chảy của thời gian, nhà thơ tập trung miêu tả cảnh chiều tà khi tiết thanh minh kết thúc, hai chị em Thúy Kiều ra về nên khung cảnh cũng nhuốm màu tâm trạng nhờ bút pháp độc đáo. của “tả cảnh ngụ tình”.

Xem thêm bài viết hay:  Top 5 cách mở bài Cảm nhận về đoạn trích Con chó Bấc hay nhất

“Bóng tà nghiêng về tây Chị em thong thả giang tay bước đi, Từng bước men theo núi Tiêu Khê, Ngắm cảnh bằng mặt thoáng, Khi dòng nước chảy quanh, Cây cầu nhỏ cuối ngõ vượt ghềnh thác”

Sáu câu thơ đã diễn tả thành công cảnh chị em Thúy Kiều ra đi trên cái nền thoáng chút buồn của cảnh thu. Khác với bước đi lưu loát nhanh, gấp gáp như “con én” ở đầu đoạn trích, lần này thời gian trôi qua chậm rãi, nhẹ nhàng: “Bóng Tài Tà nghiêng về tây”. Hình ảnh mặt trời dần lặn trong ánh nắng cuối chiều đã được tác giả tái hiện thành công qua từ tượng hình “tà tà”, đồng thời gợi tâm trạng tiếc nuối, hoài niệm, bâng khuâng qua bước chân. một chút tình cảm “dang tay ra đi” nên thơ của hai chị em Thúy Kiều. Và dường như tâm trạng buồn lặng lẽ của con người đã thấm sâu vào cảnh vật. Khung cảnh thiên nhiên không còn hiện ra với độ cao, rộng, rộng, đầy sức sống như ở bốn câu thơ đầu mà được miêu tả qua những hình ảnh nhỏ nhắn, quen thuộc hơn như “đỉnh núi”. khê”, “dịp cầu nhỏ” bắc qua cuối ghềnh để phù hợp với tâm trạng của con người Đặc biệt, tác giả đã vận dụng thành công hệ thống từ láy trải đều trong các câu thơ như “ta ta”, “dạo chơi”, “nhỏ bé”, “thanh thanh”, “nao nao” giàu giá trị tượng trưng.. lạnh lùng.

“Dòng nước uốn quanh, dịp chiếc cầu nhỏ cuối ghềnh”

Mặt nước hiện ra qua dòng chảy “rưng rưng”, trôi chầm chậm bên chân cầu “nhỏ” vừa gợi sắc thái của cảnh vật, vừa thể hiện thành công tâm trạng con người và hoàn toàn hài hòa với cảnh vật. bước chân “dạo chơi” bâng khuâng của nhân vật trữ tình. “Nào nao” còn là tính từ mang tính chất dự đoán, báo trước cho cuộc gặp gỡ sắp tới của Thúy Kiều và chàng Kim. Tác giả đã vận dụng thành công bút pháp trong thơ trung đại như tả cảnh ngụ ngôn tạo nên mối quan hệ, thống nhất giữa cảnh và tình:

“Cảnh nào chẳng buồn, người buồn bao giờ cũng vui, người buồn bao giờ cũng buồn, người buồn bao giờ cũng buồn”.

Xem thêm bài viết hay:  2 Bài văn mẫu Phân tích nhân vật bé Thu trong truyện ngắn Chiếc lược ngà hay nhất - Ngữ văn lớp 9

Như vậy, trong 6 câu thơ cuối, mối quan hệ hai chiều giữa cảnh và tình được thể hiện qua việc khi hội tàn, lòng người buồn bã, khắc khoải và đầy hoài niệm, cảnh vật vì thế tất yếu mang màu sắc của u sầu và buồn bã. ảm đạm. Để diễn tả thành công điều này, tác giả Nguyễn Du đã vận dụng tinh tế một bút pháp tả cảnh ngụ ngôn độc đáo, đồng thời lựa chọn những hình ảnh, ngôn từ giàu chất tạo hình, thể hiện trình độ nghệ thuật bậc thầy của ông. miêu tả thiên nhiên.

Phân tích 6 câu thơ cuối đoạn trích Cảnh ngày xuân – văn mẫu 2

Truyện Kiều của Nguyễn Du không chỉ có giá trị lớn về mặt nội dung mà còn thể hiện phong cách nghệ thuật tài tình của tác giả. Đặc biệt, 6 câu thơ cuối trong đoạn trích “Cảnh ngày xuân” thể hiện bút pháp xuất sắc của đại thi hào Nguyễn Du.

“Bóng Thái Tà nghiêng về phía tây Hai chị em thong dong dang tay bước đi, Từng bước men theo núi Tiêu Khê, Ngắm nhìn phong cảnh mặt thoáng, Khi dòng nước chảy quanh, Cây cầu nhỏ cuối ngõ vượt ghềnh thác”

Sáu câu thơ là cảnh chị em Thúy Kiều du xuân trở về – một bức tranh nên thơ buồn trong buổi chiều xuân. Bức tranh ấy được tác giả miêu tả bằng những nét vẽ nhẹ nhàng, chậm rãi, nhuốm tâm trạng bâng khuâng, hoài niệm của con người. Với phong cách nghệ thuật tả cảnh ngụ tình độc đáo, Nguyễn Du đã gợi lên nỗi nhớ nhung, tiếc nuối của chị em Thúy Kiều khi phải từ biệt hội xuân để ra đi:

“Bóng tà ngả về tây Chị em giang tay đi lang thang”

Bài thơ chất chứa một nỗi buồn sâu thẳm. Điệp từ “ta ta” với nhịp điệu chậm rãi gợi hình ảnh mặt trời lặn dần và nỗi luyến tiếc không muốn rời xa của chị em Thúy Kiều, muốn níu kéo thêm chút khoảnh khắc tươi đẹp của ngày xuân. . Từ “dạo chơi” được dùng rất đắt, thể hiện nỗi nhớ da diết khôn nguôi.

“Dượt bước bên núi Tiêu Khê, Ngắm nhìn phong cảnh mặt thanh tĩnh”

Xem thêm bài viết hay:  Hãy phân tích tác hại của việc thiếu trung thực trong thi cử hay nhất - Ngữ văn lớp 11

Khung cảnh không còn nhộn nhịp và tràn đầy sức sống như ở 4 dòng đầu bài thơ mà đã chan chứa tâm trạng con người. Khi con người đắm chìm trong khung cảnh mùa xuân tươi đẹp cũng là lúc thời gian lặng lẽ trôi qua. Cảnh xuân dù đẹp đến đâu rồi cũng sẽ phai tàn. Trời đã xế chiều, chuyến du xuân đã kết thúc, tâm hồn con người như hòa nhịp với cảnh vật. Cảnh vật vẫn mang vẻ đẹp dịu dàng, nhưng chuyển động chậm lại, dáng vẻ nhỏ bé, phảng phất nét buồn man mác. Các từ láy được sử dụng rất hiệu quả: “tà tà”, “nao nao”, “thanh thanh” không chỉ gợi cảnh vật mà còn bộc lộ tâm trạng tiếc nuối của con người. Cảnh và người dường như đồng điệu. Khi người lưu luyến thì cảnh cũng trở nên nhỏ lại như để phù hợp với tâm trạng con người: “Tiểu Khê” – dòng suối nhỏ hay như chiếc cầu nhỏ ở “cuối ghềnh” phía xa. Dường như linh tính có chuyện sắp xảy ra:

“Tuy nhiên, nước uốn quanh, nhân dịp chiếc cầu nhỏ cuối ghềnh”

Bốn bề trở nên vắng lặng, tĩnh lặng. “Nào nao” là trạng thái của nước dường như đồng cảm với tâm trạng con người với một nỗi buồn khó tả. Được dịp cây cầu nhỏ xinh bắc ngang qua suối tạo nên vẻ đẹp yên bình, thơ mộng. Nguyễn Du sử dụng từ “nao nao” một cách tinh tế. Tả cảnh mà còn để nói lên tâm trạng con người với một nỗi buồn khó tả. Như những câu thơ mà Nguyễn Du đã từng viết:

“Cảnh buồn nào chẳng buồn, cảnh buồn bao giờ vui”

Với 6 câu thơ cuối trong đoạn trích “Cảnh ngày xuân”, Nguyễn Du đã cho người đọc thấy được bút pháp tả cảnh ngụ tình độc đáo. Tả cảnh hay cũng chính là gợi được tâm trạng của con người. Khung cảnh không còn rộn ràng, rực rỡ mà trở nên dịu dàng, tĩnh lặng hệt như tâm trạng lưu luyến, bâng khuâng của chị em Thúy Kiều khi phải từ biệt trẩy hội mùa xuân.

Xem thêm các bài văn mẫu phân tích và lập dàn ý tác phẩm lớp 9:

Mục Lục Văn Mẫu | Văn học hay 9 theo từng phần:

Giới thiệu về kênh Youtube

Các bộ đề lớp 9 khác

Viết một bình luận