50+ mẫu Phân tích cái hay của điệp ngữ Buồn trông trong Kiều ở lầu Ngưng Bích | Văn mẫu lớp 9

Tổng hợp 50+ mẫu Phân tích cái hay của điệp ngữ Buồn trông trong Kiều ở lầu Ngưng Bích hay, chọn lọc từ những bài văn hay của học sinh lớp 9
trên cả nước giúp học sinh lớp 9 có thêm tài liệu tham khảo từ đó biết cách viết Phân tích cái hay của điệp ngữ Buồn trông trong Kiều ở lầu Ngưng Bích dễ dàng hơn.

Đề bài: Trong đoạn thơ nói về tâm trạng Kiều ở lầu Ngưng Bích (“Truyện Kiều”), Nguyễn Du có tả bốn bức tranh Kiều “buồn trông” rất hay. Em hãy phân tích cái hay đó.

Bài giảng: Kiều ở lầu Ngưng Bích – Cô Nguyễn Dung (Giáo viên )

Dàn ý Phân tích cái hay của điệp ngữ Buồn trông trong Kiều ở lầu Ngưng Bích

1. Mở bài

– Giới thiệu về Truyện Kiều và đoạn trích “Kiều ở lầu Ngưng Bích”

– Vẻ đẹp trong bút pháp miêu tả nội tâm của Nguyễn Du ở trong tám câu cuối cùng điệp từ “Buồn trông”.

2. Thân bài

– Bốn bức tranh được dựng lên qua tám câu thơ, thể hiện tâm trạng của nàng Kiều.

– Tất cả đều được bắt đầu bằng “buồn trông” → Nghe buồn thảm, sầu thương.

+ Nỗi buồn của con người thấm sang cảnh vật

+ Sau tất cả những biến cố đã xảy ra, giờ Kiều mới có thể ngồi ngẫm lại thấm thía nỗi buồn của bản thân.

– Bức tranh đầu tiên: Con thuyền và cánh buồm:

+ Lầu Ngưng Bích nhìn về phía biển, Kiều bắt gặp cảnh “cửa bể chiều hôm”

+ “Chiều hôm”: Lúc trời bắt đầu tối→ Buồn, nhớ nhà.

+ Trong khung cảnh ấy, Kiều bắt gặp hình ảnh một chiếc thuyền.

+ “Thuyền ai”: Nghe thật mơ hồ, “thấp thoáng”: Chỉ mập mờ, mơ ảo một cánh buồm.

→ Sự mơ hồ, lẻ loi của chiếc thuyền đang dần mất hút, chỉ còn chút tàn dư → Nỗi buồn trong lòng Kiều.

– Bức tranh thứ hai: Con nước và cánh hoa

+ Con nước đang ồ ạt tuôn xuống. Dòng nước xô đẩy, kéo phăng mọi thứ

+ Một cánh hoa mỏng manh đang dập dềnh trên sóng nước

+ “Man mác”: Từ láy, chỉ sự vô định, một nỗi buồn sâu thẳm

→ Cánh hoa có thoát khỏi dòng nước, hay sẽ bị dòng nước cuốn phăng, vùi dập → Cuộc đời của Kiều, phải chăng cũng như cánh hoa kia, sẽ bị dòng đời xô đẩy tới tận cùng.

– Bức tranh thứ ba: Nội cỏ và bầu trời:

+ Lại một khung cảnh quạnh quẽ, thê lương.

+ “Nội cỏ”: Cánh đồng cỏ bát ngát, kéo dài tới tận chân trời

+ “Rầu rầu”: Sự héo úa, u ám, không có sức sống → Tâm trạng của Kiều cũng buồn tủi như vậy.

+ Cánh đồng cỏ héo úa, kéo dài tới tận chân trời, hòa với sắc trời thành một dải.

+ “Xanh xanh”: Màu xanh mờ nhạt, mơ hồ.

+ Hai từ láy liên tiếp chỉ màu sắc u ám → Nhấn mạnh màu sắc → Cuộc đời của Kiều qua con mắt nàng.

– Bức tranh thứ tư: Gió và mặt biển

+ Là bức tranh dữ dội nhất trong bốn bức tranh

+ Gió và sóng biển gào thét, cuồng nộ

+ Kiều tưởng chừng mình đang ngồi trên lớp lớp sóng biển, nghe nó gào thét xung quanh.

+ “Ầm ầm”: từ láy âm thanh, gợi ra sự dữ dội, hung bạo

→ Sự dự đoán về tương lai của Kiều

=> Nỗi buồn đã dâng tới tột đỉnh khiến con người có thể liều lĩnh bất chấp tất cả để thoát khỏi nỗi buồn đó → Nguyên do để sau này Kiều liều lĩnh nghe lời dụ dỗ của Sở Khanh.

– Kết luận chung:

+ Bốn bức tranh đều được đặt từ “buồn trông” lên đầu

+ Thiên nhiên được nhìn qua con mắt của Kiều.

+ Màu sắc của thiên nhiên và cảnh vật cũng là tâm trạng và tương lai của Kiều

3. Kết bài

– Khẳng định lại vấn đề

– Nguyễn Du là bậc thầy miêu tả nội tâm nhân vật.

Phân tích cái hay của điệp ngữ Buồn trông trong Kiều ở lầu Ngưng Bích – mẫu 1

Trong tác phẩm Truyện Kiều có rất nhiều đoạn trích độc thoại nội tâm, miêu tả tâm trạng của Thúy Kiều trong mười lăm năm lưu lạc xa quê. Thế nhưng để nói tới đoạn thơ miêu tả nội tâm đặc sắc nhất thì không thể không nhắc tới đoạn trích “Kiều ở lầu Ngưng Bích”. Đây là một trong những trích đoạn miêu tả nội tâm nhân vật xuất sắc nhất, độc đáo nhất của Nguyễn Du, đặc biệt là tám câu cuối của đoạn thơ. Tất cả vẻ đẹp, cái hay, cái tài hoa của Nguyễn Du đều đọng lại trong tám câu thơ này cùng với điệp từ “buồn trông”:

“Buồn trông cửa bể chiều hômThuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xaBuồn trông ngọn nước mới saHoa trôi man mác biết là về đâuBuồn trông nội cỏ rầu rầuChân mây mặt nước một màu xanh xanhBuồn trông gió cuốn mặt duềnhẦm ầm tiếng sóng vây quanh ghế ngồi”.

Tám câu thơ trên mới đọc qua tưởng chừng chỉ tả những cảnh vật bên ngoài lầu Ngưng Bích nhưng ngẫm lại thì mới thấy thực ra nó đang tả lại cái tâm trạng con người, tâm trạng của Kiều.

Bốn bức tranh được dựng lên bằng tám câu thơ, mỗi bức tranh là một khung cảnh khác nhau nhưng bức tranh nào cũng bắt đầu bằng điệp từ “Buồn trông”. Đọc lên nghe sao mà não lòng, sầu bi, thương xót đến thế! Nỗi buồn ấy dường như chứa đựng sẵn trong lòng người, vậy nên khi nhìn vào cảnh vật, Kiều lại càng thấy buồn bã hơn, buồn đến vô cùng, càng ngắm nhìn lại càng thêm buồn thảm. Tâm trạng đau thương, buồn tủi của Kiều đã thấm sang cảnh vật khiến nó cũng nhuốm màu thê lương giống như nàng lúc này. Cảnh vật ấy quả thực hợp với nàng hay do lòng nàng mà nên!

Trước khi gặp gia biến, Kiều sống trong cảnh “Êm đềm trướng rủ màn che”, nàng có buồn nhưng cái buồn ấy chỉ là sự thoáng qua, cái buồn bã của một thiếu nữ khuê các. Nhưng giờ đây, trải qua bao biến cố, bao đau khổ, ngồi một mình nơi này, nàng mới thấy cái buồn đang thấm vào tim gan của nàng, gieo rắc cho nàng một nỗi buồn dai dẳng, kéo dài tới tận cuộc đời phía trước.

Biến cố bắt đầu tất cả từ khi nàng phải bán mình chuộc cha, phải rời xa tình yêu đầu đời Kim Trọng, xa nhà, xa quê hương, xa cả gia đình êm ấm, rồi bị làm nhục, bị đưa vào lầu xanh, bị lừa, bị đánh đập, tất cả cứ liên tiếp, liên tiếp xảy đến với nàng. Như thế hỏi sao nàng không buồn được chứ? Nhưng cái buồn ấy cũng chỉ mới thoảng đến thoảng đi, bởi nàng còn chưa kịp hoàn hồn trước biến cố này thì biến cố khác đã ập tới. Để đến tận giờ đây, ngồi lại một mình yên tĩnh, nàng mới có cơ hội được thấm cái buồn trong số mệnh của mình.

Quả thực là buồn bởi ngay từ những dòng thơ đầu tiên, người ta đã thấy Kiều thơ thẩn một mình ngoài hàng hiên của lầu Ngưng Bích, ngắm những cảnh vật xa xăm, khi bốn bề thật là vắng lặng, quạnh quẽ đến vô cùng. Không gian ấy dội vào lòng Kiều những nỗi buồn khó tả.

Nàng nhớ Kim Trọng, nhớ mẹ cha, nhớ nhà. Tất cả nỗi nhớ ấy hòa quyện đượm lên nỗi buồn của nàng, thấm thía làm sao. Và Nguyễn Du đã thật tinh tế khi gợi lên nỗi buồn ấy của nàng bằng một từ thật mộc mạc, chân thật quá đỗi: “Buồn trông”. Vì buồn nên trông nên ngắm nhưng càng trông càng ngắm lại càng thấy buồn. Hai tiếng ấy dội vào lòng người thật thê lương biết bao! Để đến giờ đây, nàng ngắm đâu nhìn đâu cũng thấy cảnh vật thật buồn bã.

Xem thêm bài viết hay:  Giải thích câu nói: "Sách là ngọn đèn sáng bất diệt của trí tuệ con người" hay nhất - Văn mẫu lớp 7

Bức tranh đầu tiên hiện lên trước mắt chúng ta:

“Buồn trông cửa bể chiều hômThuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa”

Ghé mắt nhìn về cửa bể, mong cảnh vật mang lại chút niềm vui cho mình, nhưng lại bắt gặp khung cảnh “của bể chiều hôm”. Chỉ nghe hai tiếng “chiều hôm” thôi, cũng thấy cái gì đó thật sầu muộn. Bởi khi đó là khi ánh mặt trời sắp lụi tàn, chỉ còn vương vấn chút ánh sáng thoi thóp trên mặt nước bể. Một dải nước mênh mang choáng lấy cái nhìn, nó cứ hút mãi tầm mắt ra xa, càng trông lại càng vô tận vô cùng. Ngoài đó chẳng có gì ngoài một miền trống vắng đến hoang hoải khi bầu trời đang dần chuyển mình vào màn đêm. Tưởng như chẳng có gì để mà bắt gặp vậy mà Kiều lại thấy “thấp thoáng” đâu đó một chiếc thuyền với “cánh buồm xa xa”. Nếu như người ta thường trông thấy cả một đoàn thuyền tấp nập, nhộn nhịp nối đuôi nhau thì ở đây, Kiều chỉ trông thấy một chiếc thuyền đang lẻ loi giữa cửa biển xa xăm. Chiếc thuyền ấy thật mơ hồ, lẻ loi, “thuyền ai”, Kiều tự hỏi, nó đang trôi về đâu? Phải chăng nó cũng đang trôi dần về vô định, trôi trong sự cô đơn lạc lõng giống như Kiều? Và chiếc thuyền ấy cũng đang dần mất hút về phía chân trời bởi Kiều chỉ còn nhìn thấy chiếc buồm “thấp thoáng” ngoài xa. “Thấp thoáng” – một từ mà khiến người ta cảm thấy nó mờ nhạt quá, cứ chợt ẩn, chợt hiện, mơ hồ, như một ảo ảnh của con người. Tâm trạng đã thật trĩu nặng, cảnh vật lại càng khiến cho lòng nàng thấm thía, buồn tủi hơn vài phần.

Ngoảnh mặt sang phía bên kia của góc lầu, nàng muốn tìm một khung cảnh khác tươi vui hơn thế nhưng:

“Buồn trông ngọn nước mới saHoa trôi man mác biết là về đâu”

Kiều chỉ muốn tìm một khoảnh khắc tươi vui giữa sự sầu muộn đang bủa vây lấy mình, thế nhưng, ngoảnh đi ngoảnh lại, nàng vẫn chỉ bắt gặp những khung cảnh thật sầu đến não lòng.

Một ngọn nước đang ầm ầm từ trên cao tuôn xuống, dòng nước tuôn chảy dữ dội, sôi trào. Nó cuộn xoáy, xô đẩy, cuốn trôi đi mọi cát bụi, cành lá. Nhìn cảnh tượng ấy, Kiều chẳng khỏi chạnh lòng, càng nhìn con nước ấy, lại càng buồn thương hơn. Nàng chợt bắt gặp một cánh hoa đang xoay tròn trên dòng nước xiết, cánh hoa ấy mỏng manh, yếu đuối bất lực giữa những xoáy nước hung dữ. Cánh hoa ấy phải chăng cũng như số phận nàng giờ đây, rơi vào chốn tủi nhục, vào dòng nước xoáy, không thể thoát ra nổi, cũng chẳng “biết là về đâu”. Cánh hoa ấy quá yếu đuối, sa vào dòng nước này, nó chẳng thể thoát ra nổi, lang thang vô định, bị vùi cho tan nát giữa dòng đời. Từ láy “man mác” được Nguyễn Du khéo léo dẫn vào câu thơ, đọc lên ta thấy một nỗi buồn thật khó tả. Cánh hoa ấy cứ dập dềnh, “man mác” gợi lên một nỗi buồn thật mơ hồ, nỗi buồn cho cánh hoa rơi giữa dòng nước dữ hay nỗi buồn cho chính số phận lênh đênh của mình giữa dòng đời dài rộng?

Hai lần ngoảnh mặt giữa khoảng không vô định là hai lần Kiều bắt gặp những cảnh vật thật vàng võ, thật sầu thảm giống y như cuộc đời của nàng. Lần thứ ba ngoảnh mặt, bức tranh cảnh vật lại càng thêm bi thương hơn nữa:

“Buồn trông nội cỏ rầu rầuChân mây mặt nước một màu xanh xanh”

Như Nguyễn Du cũng đã từng nói: “Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”, vậy nên giờ đây, ngó quanh bên mình, cái nhìn mang một nỗi sầu muộn nên vẫn chỉ là “buồn” mà “trông”. Lại là một khung cảnh quạnh quẽ, thê lương! Chẳng còn màu xanh tươi mát của: “Cỏ non xanh tận chân trời” như những ngày còn êm ấm, giờ đây, Kiều chỉ thấy một “nội cỏ rầu rầu”. Vẫn là một thảm cỏ trải dài tới tận chân trời, thế nhưng lại mang một màu sắc thật u ám “rầu rầu”, không chút sức sống. Cả một cánh đồng cỏ mênh mông, không một bóng hoa, bóng cây, nhà cửa, con người, thật đơn điệu, thật nhàm chán biết bao. Nhìn ra xa, toàn một màu cỏ vàng úa, héo tàn, chẳng còn chút sức sống mãnh liệt thuở nào, hay chăng cũng giống như tâm trạng của Kiều lúc này, cùng sầu thảm, bi thương, héo úa hệt như thế? Cánh đồng cỏ bát ngát ấy chắc cũng hệt như tâm trạng con người ngắm nó lúc này:

“Chân mây mặt đất một màu xanh xanh”

Mặt đất, bầu trời dường như nối liền vào với nhau, tạo nên một màu “xanh xanh”. “Xanh xanh” – chẳng phải là xanh hẳn mà chỉ là “xanh xanh”. Cái màu xanh ấy nó nhợt nhạt, xa xôi quá khiến cho người ngắm nhìn cảm thấy cô đơn, sầu thảm. Nguyễn Du đã đặt vào bức tranh thứ ba này hai từ láy chỉ màu sắc liên tiếp ở hai câu thơ. Phải chăng ông đang muốn nhấn mạnh màu sắc u ám của bức tranh thứ ba mà Kiều đang ngắm nhìn?

Ngoảnh mặt ba bên, bên nào cũng là những cảnh vật thật khiến người ta cảm thấy thê lương đến vô cùng. Chỉ còn một phía cuối cùng, Kiều ngoảnh lại nhìn. Nếu ba bức tranh đầu kia, cái buồn chỉ là chút vương vấn, tăng dần theo khung cảnh, chưa thực sự hẳn là buồn thì ở bức tranh này, cái nỗi buồn ấy mới thực là thấm thía tim gan:

“Buồn trông gió cuốn mặt duềnhẦm ầm tiếng sóng vây quanh ghế ngồi”.

Dường như ba bức tranh trên chỉ là phông nền, là sự chuẩn bị cho nỗi buồn trào dâng ở bức tranh thứ tư này.

Một vùng biển ăn sâu vào trong bờ đất, bên ngoài là mặt biển lớn mênh mang, gió từ biển cuộn lại hút sâu vào cái “duềnh”, tạo nền một thứ âm thanh thật khủng khiếp. Nó ầm ầm, rung chuyển, cuộn trào bọt tung trắng xóa. Những con sóng ở đây chẳng êm đềm mà đang gào thét, cuồng nộ, xô nhau, cuốn phăng đi mọi thứ. “Ầm ầm”, từ láy âm thanh mà khi đọc lên dường như ta còn cảm nhận thấy được sự dũng mãnh, sự cuồng nộ vô cùng của những con sóng biển. Dường như ta còn nghe được tiếng nó đang gào thét ngay bên mình, hết lớp này tới lớp nọ, không ngơi không nghỉ. Tiếng sóng dữ dội ấy dường như đang vây quanh Kiều. Nàng thấy mình chẳng còn ngồi trong lầu Ngưng Bích “khóa xuân” ấy nữa mà ngồi giữa mặt biển, nghe tiếng sóng vỗ đang gào thét quanh mình. Trong lòng nàng chợt dâng lên một nỗi lo lắng, cảm khái, sợ hãi trước tương lai. Những con sóng ấy phải chăng là sóng gió của cuộc đời đang bủa vây lấy nàng, tâm hồn nàng, nhìn nàng mà cuồng nộ? Hay phải chăng đó cũng là lời của Nguyễn Du muốn báo trước cho nàng về số mệnh của người con gái tài hoa nhưng truân chuyên ấy?

Ba bức tranh trước, chúng ta luôn thấy con người và cảnh vật song hành. Tuy xuất hiện cùng nhau nhưng lại hoàn toàn tách biệt đến tận bức tranh thứ tư, con người và cảnh vật đã hòa quyện lại với nhau. Cái buồn của con người đã thấm hết sang cảnh vật, đẩy nó lên cao trào, tột đỉnh. Sự tột đỉnh của cái buồn có thể khiến con người có thể làm bất cứ điều gì để thoát khỏi cái bóng ghê gớm của nó. Chính điều này có lẽ là nguyên do khiến cho sau này Kiều dại dột nghe theo Sở Khanh để rồi bị hắn lừa gạt.

Xem thêm bài viết hay:  3 bài văn mẫu Phân tích tác phẩm Chiếu cầu hiền của Ngô Thì Nhậm hay nhất - Ngữ văn lớp 11

Khép lại bốn bức tranh, người đọc không thể không ấn tượng bởi điệp từ “buồn trông”. Khi tâm trạng buồn tủi, chán chường đến vô cùng thì nhìn đâu cũng chỉ là cái nhìn đầy sầu muộn mà thôi. Điệp từ luôn được Nguyễn Du đặt ở đầu câu, theo sau nó là bốn bức tranh phong cảnh chứa đựng sự u ám, đầy thê lương. Có thể nói, điệp từ ấy là từ để gợi tả lên nỗi lòng của Kiều, cũng là mở ra những bức tranh tâm trạng của nàng, cũng là dự báo về những giông tố cuộc đời phía trước của nàng.

Phải nói, để dựng lên bức tranh tâm trạng này, không một nhà thơ nào có thể làm tốt hơn Nguyễn Du. Những bức tranh thiên nhiên ấy hòa hợp một cách diệu kì với tâm trạng của một nàng Kiều đang trong bề đau khổ. Đặc biệt là điệp từ “buồn trông”. Cái cách ông thể hiện sắc thái của thiên nhiên, của tâm trạng con người thật khiến người ta thán phục. Nguyễn Du quả thật là một nhà thơ với bút pháp miêu tả nội tâm con người sâu sắc với độc đáo nhất.

Phân tích cái hay của điệp ngữ Buồn trông trong Kiều ở lầu Ngưng Bích – mẫu 2

Truyện Kiều là một trong những tác phẩm lớn và xuất sắc nhất của Nguyễn Du. Để viết nên tuyệt tác này ông đã sử dụng rất thành công các phép tu từ, đặc biệt là bút pháp tả cảnh ngụ tình.

Tám câu thơ cuối trong đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích có lẽ là tám câu thơ tả cảnh ngụ tình hay nhất trong tác phẩm, qua đó đã diễn tả sinh động tâm trạng Thuý Kiều khi bị giam lỏng ở lầu Ngưng Bích, để lại ấn tượng không thể nào quên cho người đọc:

Buồn trông cửa bể chiều hôm,

Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa?

Buồn trông ngọn nước mới sa,

Hoa trôi man mác biết là về đâu?

Buồn trông nội cỏ rầu rầu,

Chăn mây mặt đất một màu xanh xanh.

Buồn trông gió cuốn mặt duềnh,

Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi.

Khung cảnh thiên nhiên của cửa biển trước lầu Ngưng Bích như hiện lên trước mắt ta: một nỗi buồn chiều hoàng hôn đẹp nhưng buồn và quạnh hiu. Đó là những con thuyền với những cánh buồm trắng nhấp nhô, con sóng bạc dập dềnh cuốn trôi từng cánh hoa, lác đác rơi trong ánh nắng cuối chiều, trảng cỏ xanh ươm nối liền đường chân trời xanh vô tận. Cùng với âm thanh dữ dội của biển khơi như một nét chấm phá cho cảnh vặt, bức tranh thiên nhiên chứa dựng trong nó biết bao nỗi niềm chất chứa của con người…

Qua những ngôn từ và hình ảnh miêu tả cảnh vật, băng cách sử dụng khéo léo và tinh tế bút pháp tả cành ngụ tình, Nguyễn Du đã cho ta hiểu và cảm thương với tâm trạng nàng Kiều.

Điệp ngữ “buồn trông” được sử dụng xuyên suốt đoạn trích tạo thành điệp khúc cho đoạn thơ và cũng tạo nên điệp khúc tâm trạng Thuý Kiều. Nỗi buồn trong Kiều như trào dâng như lớp sóng ồ ạt dồn về phía đại dương mênh mông. Nỗi niềm đó cứ triền miên, cứ dai dẳng, đeo bám, tạo thành cái vòng luẩn quẩn khỏng lối thoát, con người ta có muốn vùng thoát ra mà cũng không thể nào được. Mỗi cảnh vật như đều nói lên nỗi niềm tâm sự ấy.

Buồn trông cửa bể chiều hôm,

Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa?

Con thuyền không bến đậu, không nơi chốn quay về gợi nhớ nỗi nhớ, nỗi cô đơn của người đi xa, muốn trở về bên gia đình êm ấm, bên bạn bè thân thương, điều này vô cùng phù hợp với cảnh ngộ của Kiều.

Buồn trông ngọn nước mới sa,

Hoa trôi man mác biết là về đâu?

Cuộc đời Kiều bây giờ như cánh hoa mỏng manh trước sóng to gió lớn, chỉ biết mặc cho bão bùng, mưa giông vùi dập. Câu thơ bộc lộ nỗi lo lắng, xót xa, buồn tủi về cảnh ngộ lênh đênh chìm nổi trước sóng gió cuộc đời.

Buồn trông nội cỏ rầu rầu,

Chân mây mặt đất một màu xanh xanh.

Thảm cỏ, biển cả với màu xanh vô vọng thật buồn và ảm đạm. Liệu có phải cánh cửa tương lai đang khép lại trước mắt Kiều, hố đen tuyệt vọng của số phận như lấp hết cả ước mơ và khát khao.

Buồn trông gió cuốn mặt duềnh,

Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi.

Ngoài kia, biển xanh đang cuộn sóng. Những âm thanh gợi sự việc kinh khủng, hãi hùng, như dự báo tai biến, nguy nan như chực đổ xuống thân phận bé nhỏ của Kiều. Lần lượt từng câu hỏi tu từ vang lên như muốn xoáy sáu vào tâm can người đọc. Ta như hiểu, cảm thông, thương xót cho những lo lắng rối bời cùng nỗi hoảng sợ tuyệt vọng của Kiều trước tương lai vô định.

Có thể nói, đây là tám câu thơ tả cảnh ngụ tình hay nhất xuyên suốt tác phẩm. Qua bức tranh thiên nhiên, ta xót xa, thương cảm cho số phận người con gái tài hoa bạc mệnh, qua đó cũng bày tỏ niềm đồng cảm, trân trọng của Nguyễn Du đối với số phận người phụ nữ dưới chế độ phong kiến xưa.

Phân tích cái hay của điệp ngữ Buồn trông trong Kiều ở lầu Ngưng Bích – mẫu 3

Trong “Truyện Kiều” của Nguyễn Du, đoạn nói về tâm trạng của Thuý Kiều ở lầu Ngưng Bích vẫn được người đọc xưa nay coi là một trong những đoạn thơ tuyệt vời về nghệ thuật tả cảnh và tả tình. Thế nhưng cái hay của cả đoạn thơ như ngưng đọng lại trong những câu thơ cuối cùng, ở bốn bức tranh:

“Buồn trông cửa bể chiều hôm,

Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa?

Buồn trông ngọn nước mới sa,

Hoa trôi man mác biết là về đâu?

Buồn trông nội cỏ rầu rầu,

Chân mây mặt đất một màu xanh xanh.

Buồn trông gió cuốn mặt duềnh,

Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi.”

Tám câu thơ trên là cảnh nhưng thực sự là tình, Nguyễn Du tả cảnh nhưng thực sự là tả tình.

Bốn bức tranh đều được nhà thơ khởi đầu bằng hai tiếng “buồn trông” nghĩa là nỗi buồn đã sẵn tự trong lòng trước khi nhìn vào cảnh và ngắm cảnh cùng với nỗi buồn ấy, vừa ngấm vừa buồn, càng ngắm càng buồn, càng buồn càng ngắm. Nói như thế thật là hợp lí, thật đúng với tâm trạng Thuý Kiều lúc này. Vì sao vậy? Vì nỗi buồn của Kiều là nỗi buồn lớn, không phải là nỗi buồn thoáng qua vì một duyên cớ chốc lát, mà là nỗi buồn đeo đẳng suốt cả đời người. Quả thật, trong suốt phần đầu của “Truyện Kìều” chưa bao giờ Kiều buồn như lúc này, bởi chưa bao giờ Kiều kịp có lúc để nhìn vào chuyện buồn của mình, ngẫm cho kĩ, thấm cho sâu về chuyện buồn ấy. Xa Kim Trọng, phải bán mình chuộc cha, Kiều chỉ kịp đau đớn, nhưng gia biến nặng nề, nỗi đau của cha, nỗi đau của mẹ, nỗi buồn của các em, những điều ấy đòi hỏi Kiều phải vững, tạm quên mình đi để giải quyết việc nhà cho trọn đạo một người con, một người chị, phải rời gia đình, cùng Mã Giám Sinh ra đi, trọng nỗi buồn vì không vẹn tình với Kim Trọng, Kiều có niềm an ủi đã cứu được gia đình. Vừa đến Lâm Tri, bước vào nhà mụ Tú Bà, chưa kịp hồi sức sau một chặng đường dài “Vó câu khấp khểnh, bánh xe gập ghềnh”, Kiều đã hoảng hốt vì quang cảnh nhà mụ, Kiều đã gặp ngay một trận “tam bành” của con mụ buôn thịt người ác độc ấy. Có lẽ Kiều đã đau, đã nhục, đã căm hờn, nhưng chưa kịp buồn.

Bây giờ mới thực sự buồn. Ta hình dung Kiều ngồi một mình trên lầu Ngưng Bích (thực chất là lầu rước khách của mụ Tú), bốn bề là mênh mông vắng lặng. Cảnh ấy dội vào lòng Kiều, xui nàng nghĩ về thân phận của mình. Nỗi buồn mỗi lúc một thấm thía.

Xem thêm bài viết hay:  Phân tích truyện ngắn Cô bé bán diêm của An-đéc-xen cực hay (dàn ý - 2 mẫu) - Ngữ văn lớp 8

Nàng buồn vì nhớ tới Kim Trọng, người mới cùng nàng thề bồi tha thiết mà nay thì vĩnh viễn cách xa. Nàng buồn vì nỗi xa cha mẹ, từ nay mỗi ngày một già yếu mà không có nàng để hôm sớm đỡ đần chăm sóc. Nỗi buồn thật là vời vợi mênh mông, giờ đã đọng thành khối trong lòng Kiều. Nếu ban đầu nỗi buồn còn từ cảnh một dội vào lòng thì lúc này nỗi buồn lại chính từ lòng buồn. Với hai tiếng “buồn trông” Nguyễn Du sao mà hiểu lòng người sâu sắc quá vậy!

Đây là bức tranh thứ nhất:

“Buồn trông cửa bể chiều hôm,

Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa?”

Trông về “cửa bể” mà lại “cửa bể chiều hôm”. Lúc ấy mặt trời sắp tắt, chỉ còn để lại những ánh sáng thoi thóp cuối cùng trên mặt nước. Nhìn về cửa bể tức là còn nhìn thấy cả một dải bể đang mất hút đi ở cuối chân trời. Phía ấy không có gì cả ngoài một trống vắng mênh mông, một bầu trời đang dần tối. Thế mà trên cái nền trống vắng lại nổi lên hình ảnh “thuyền ai”. “Thuyền ai” tức là chỉ có một chiếc thuyền, chứ không phải cảnh đoàn thuyền đông đúc tấp nập từ biển trở về để gợi lên một điều vui vẻ. Con thuyền gần như mất hút cuối chân trời, vì Kiều chỉ nhìn thấy cánh buồm của nó, mà cánh buồm thì lại cũng chỉ “thấp thoáng”. “Thấp thoáng”, hai âm “th” gợi một cảm giác lặp lại, với hai âm “áp” và “oáng” một âm tắc, một âm vang – diễn tả hình ảnh cánh buồm mờ mờ tỏ tỏ, chợt hiện rồi chợt ẩn, nhấp nhô trên sóng biển, như mơ hồ, như ảo ảnh ở cuối biển xa xa. “Thuyền ai …” thuyền ai đó, thuyền ai thế nhỉ? Thuyền đang đi về nơi quê nhà thân yêu của ta chăng? Hay thuyền đang đi về nơi vô định, cũng cô đơn, cũng lưu lạc giang hồ như chính ta? Tâm sự này đã buồn, trông vào cảnh ấy, sao có thể không thấm thía nỗi buồn hơn.

Như để tìm một chút lãng quên, Kiều ngoảnh mặt nhìn sang hướng khác. Thì đây:

“Buồn trông ngọn nước mới sa,

Hoa trôi man mác biết là về đâu?”

Trước mắt Kiều là một ngọn nước từ trên thác cao đang đổ xuống. Mới từ lòng suối chảy trôi khỏi đầu ngọn thác, ôi thôi, thế là tan tác đời trong trẻo với êm đềm của nước. Bây giờ là lúc bắt đầu của dập vùi, cuốn xoáy, sôi trào, xô đập, ngầu đục cát bùn. Kinh hãi thay cái phút từ trên mỏm đá cao sa xuống thác! Cảnh ngọn nước đã buồn, mà nhìn đến chân ngọn nước thì: hoa trôi man mác … Giá nhà thơ viết “tan tác” thì cũng đành đi một nhẽ, cho nó tan vỡ đi, chìm lấp đi, những cánh hoa mỏng manh kia! Nhưng không, hoa rụng xuống dòng nước và bập bềnh trôi đi, bị đưa qua đẩy lại, rồi lại trôi đi, lặng lẽ, buồn bã, để đến một nơi nào không làm sao có thể biết được. Ngọn nước mới sa ấy, cánh hoa trôi ấy, có khác chi cuộc đời Kiều! Chính Kiều cũng là một ngọn nước vừa mới đi qua lòng suối êm đềm và vừa mới sa xuống giữa ngọn xoáy dập vùi. Chính Kiều cũng là đoá hoa đang man mác trôi đi, đơn độc và mỏng manh trên một dòng nước vừa dài vừa rộng với bao nhiêu đe doạ chưa thể nào hình dung ra hết.

Lòng đã buồn, cảnh lại buồn quá. Thôi, hãy đưa mắt trông đi nơi khác.

“Buồn trông nội cỏ rầu rầu,

Chân mây mặt đất một màu xanh xanh.”

Lại một cảnh mênh mông hoang vắng: một đồng cỏ phẳng lặng kéo mãi đến cuối tầm nhìn, không một bóng cây, không một dòng sông, không một gò núi, không một mái nhà để phá vỡ bớt cái đơn điệu chán nản ấy đi. Chỉ có cỏ, cỏ và cỏ. Mà cỏ thì cũng có tươi tốt gì đâu! Từ “rầu rầu” không chỉ gợi lên ý rầu rầu, buồn bã, mà còn cho ta hình dung thấy những ngọn cỏ lưa thưa ủ ê như đang dần héo hắt đi, đang mất dần sức sống. Đây không phải là đồng cỏ xuân đầy sức sống và niềm vui khi Kiều đi dự hội thanh minh:

“Cỏ non xanh rợn chân trời … “

Đây là đồng cỏ cuối mùa, cũng đang buồn bã như chính lòng người ngấm cảnh. Thế mà cái đồng cỏ ấy, cái màu cỏ ủ ê ấy lại kéo dài ra vô tận, tiếp cả với nền trời, thành một màu duy nhất: “xanh xanh”. Nếu Nguyễn Du viết:

“Chân mây mặt đất một màu xanh xanh”

Thì hẳn nàng Kiều đã tìm được ở đó một niềm an ủi, đôi chút lãng quên. Nhưng “xanh xanh” thì chưa hẳn là xanh, chỉ có vẻ xanh thôi, một màu xanh nhợt nhạt, xa xôi, làm gợi lên một niềm ngao ngán. Và có lẽ cái màu “xanh xanh” ấy là cái màu của tâm trạng được nhìn từ đôi mắt đẫm ướt khổ đau.

Thế là Thuý Kiều đã ngoảnh nhìn hết ba hướng. Nàng chỉ còn một hướng cuối cùng. May ra có chút đổi thay chăng?

“Buồn trông gió cuốn mặt duềnh,

Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi”

Hóa ra cái buồn của ba cảnh trước tuy buồn mà chưa thực là buồn. Ba cảnh trên buồn đến thế còn là nhẹ quá. Cảnh này mới thực là buồn. Ba bức tranh trên chỉ là những bước chuẩn bị cho cảnh buồn cuối cùng này. Một vũng biển ăn sâu vào đất liền, ngoài kia là biển lớn. Gió biển hun hút chạy vào duềnh, gió cuốn ào ào khiến mặt biển nổi đầy sóng lớn, trắng xoá một màu. Sóng vỗ “ầm ầm” chứ không phải “ầm” như những ngày ít gió; sóng gào thét cuồng nộ, đập vào bờ, xô đập nhau, lớp sóng này chưa tan đã ào lên lớp sóng khác, liên tục, bất tận. Tiếng sóng lớn lắm, không chỉ vang ầm trên biển mà vang đi rất xa, vang khắp bốn bể. Kiều tưởng như mình không còn ngồi trên lầu Ngưng Bích nữa, mà ngồi đâu chính giữa duềnh biển mênh mông ấy, bốn bên nàng là sóng vỗ. Mấy từ “Ầm ầm tiếng sóng” nghe đã dữ dội bên tai nàng, dâng lên gào thét trong tâm hồn nàng, vây bủa lấy nàng.

Nếu trong ba bức tranh trên, giữa người và ngoại cảnh còn là hai đối tượng phân biệt, đâu là chủ, đâu là khách, thì đến bức tranh này, con người đã nhập vào ngoại cảnh; ngoại cảnh trùm phủ lấy con người, nỗi buồn thực đã đi đến mức cùng tột của cao trào. Lúc này, con người sẵn sàng tan đi cùng với ngoại cảnh, sẵn sàng làm bất cứ việc liều lĩnh nào để hoặc thoát khỏi nỗi buồn ghê gớm ấy, hoặc có thể chết đi cũng không cần. Chính tâm trạng này đã dọn đường cho việc Kiều gặp Sở Khanh, liều lĩnh theo y rồi bị lừa gạt.

Bốn bức tranh của Nguyễn Du thật ra thì không lạ lùng. Nhưng thật là lạ lùng cách của Nguyễn Du diễn tả những bức tranh ấy trong sự hoa hợp với hoàn cảnh và tâm trạng của Thuý Kiều. Bởi Nguyễn Du rất tinh tế khi nhìn cảnh, rất sâu sắc về tình người, nhưng còn bởi điều này nữa: Nguyễn Du rất tài tình trong ngôn ngữ.

Bài giảng: Kiều ở lầu Ngưng Bích – Cô Nguyễn Ngọc Anh (Giáo viên )

Xem thêm các bài Văn mẫu phân tích, dàn ý tác phẩm lớp 9 khác:

Mục lục Văn mẫu | Văn hay 9 theo từng phần:

Các loạt bài lớp 9 khác

Viết một bình luận