Dàn ý Dựa vào Chiếu dời đô và Hịch tướng sĩ hãy nêu suy nghĩ hay nhất (3 mẫu)

Đề bài: Dựa vào Chiếu dời đô của Lý Công Uẩn và Hịch tướng sĩ hãy nêu suy nghĩ của em về vai trò của những người lãnh đạo anh minh.

Dàn ý Hãy nêu suy nghĩ của em về vai trò của những người lãnh đạo anh minh

Dàn ý – mẫu 1

A. Mở bài:

– Dẫn dắt vấn đề: Hiền tài là nguyên khí của quốc gia.

– Nêu vấn đề: Lãnh đạo có vai trò vô cùng quan trọng đối với vận mệnh của một quốc gia, dân tộc.

B. Thân bài:

Luận điểm 1: Những phẩm chất của một người lãnh đạo anh minh

– Có tầm nhìn xa, trông rộng.

– Có lòng yêu nước, thương dân.

– Có kiến thức sâu rộng, uyên thâm.

– Luôn sáng suốt, anh minh, công bằng….

Luận điểm 2: Vai trò của một vị vua đối với vận mệnh đất nước.

– Vua Lý Thái Tổ là vị vua khai sinh ra ra vương triều nhà Lý – một triều đại thịnh trị trong lịch sử dân tộc.

– Giành được hòa bình, đất nước đang trong giai đoạn dựng xây và phát triển, vua Lý Thái Tổ đã nhìn ra được những yếu điểm của kinh đô Hoa Lư và những lợi thế, tương lai của vùng đất Thăng Long. Chính nhờ tầm nhìn xa, trông rộng của vua mà đất nước mới có được điều kiện để phát triển thịnh vượng nhất có thể.

– Vua Lý Thái Tổ cũng rất cẩn thận, khéo léo trong cách thuyết phục nhân dân, quần thần dời đô:

   + Nhắc lại các triều đại dời đô thành công trong lịch sử Trung Quốc: nhà Thương, nhà Chu.

   + Phân tích những hạn chế của vùng đất Hoa Lư và sự bảo thủ của các triều Đinh, Lê

   + Phân tích những lợi thế của vùng Thăng Long

⇒ Trong thời đại đất nước đang trên đà phát triển hưng thịnh, vua Lý Thái Tổ với kiến thức uyên thâm về địa lý, phong thủy, tầm nhìn xa trông rộng, tấm lòng yêu nước, thương dân, một lòng muốn cống hiến cho đất nước để đưa ra quyết định dời đô – từ đó tạo ra bước chuyển mình mạnh mẽ trong lịch sử dân tộc ta.

Luận điểm 3: Vai trò của một vị tướng lĩnh đối với vận mệnh đất nước trong chiến tranh, nguy nan.

– Trần Quốc Tuấn là một vị tướng lĩnh tài ba dưới thời vua Trần Nhân Tông, có công lao to lớn trong 2 cuộc kháng chiến chống quân Mông – Nguyên năm 1285 và 1287.

– Nhận thấy sức mạnh, khí thế của quân đội ta đang đi xuống, Trần Quốc Tuấn đã ngay lập tức làm bài “Hịch tướng sĩ” để khích lệ tinh thần quân đội, lập nên chiến thắng anh dũng trước quân Mông – Nguyên. Đó là một hành động vô cùng cần thiết và hợp lí, đánh trúng vào lòng yêu nước, căm thù giặc của tất cả binh sĩ, phát động đấu tranh trong toàn nước.

– Trần Quốc Tuấn không chỉ nắm được điểm yếu của giặc mà còn nắm được điểm yếu, điểm mạnh của chính quân đội ta khiến cho bài hịch có sức thuyết phục và ảnh hưởng mạnh mẽ đến quân đội.

– Sự am hiểu về binh pháp, tài điều binh khiển tướng, năm bắt thời cơ tốt cùng tấm lòng trung quân ái quốc của Trần Quốc Tuấn chính là mấu chốt giúp ta giành được thắng lợi trước quân giặc mạnh và hung hãn như quân Mông – Nguyên.

Luận điểm 4: Bàn luận

– Cả Lý Thái Tổ và Trần Quốc Tuấn đều là những người lãnh đạo anh minh, sáng suốt, hội tụ đủ các phẩm chất tinh anh của dân tộc, có công lao lớn trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước trong lịch sử dân tộc.

– Nếu như vua không sáng, tướng không giỏi thì chắc chắn đất nước đó sẽ sớm bại lụi, không thể phát triển được.

C. Kết bài:

– Khẳng định lại vai trò to lớn của người lãnh đạo đối với vận mệnh đất nước.

– Liên hệ đến thời hiện đại: Trong xã hội đang trên đà phát triển, hội nhập mạnh mẽ như hiện nay, chúng ta càng cần đến những người lãnh đạo sáng suốt, anh minh, nhạy bén thì mới có thể chèo lái nhân dân, đưa đất nước đến sự thịnh vượng, văn minh, tiên tiến.

Dàn ý – mẫu 2

1. Mở bài:

+Những người đứng đầu là vô cùng quan trọng.

+Đọc lại áng văn Chiếu dời đô của Lí Công Uẩn và Hịch tướng sỹ của Trần Quốc Tuấn, chúng ta càng thấy rõ vai trò của những người lãnh đạo anh minh…

2. Thân bài:

+Lí Công Uẩn và Trần Quốc Tuấn đều là những nhà lãnh đạo tài ba, uyên bác hết lòng vi nước vì dân

+Trần Quốc Tuấn là một vị tướng tài giỏi.

+Trần Quốc Tuấn là vị chủ tướng đã vạch ra trước mặt binh sĩ của mình hai con đường, hoặc là nhà tan cửa nát khi vận nước suy vong, hoặc vinh hiển đời đời cùng chiến thắng của dân tộc

+Lý Công Uẩn – người đầu tiên lập nên triều đại nhà Lí ở nước ta. Ông là người thông minh, nhân ái, yêu nước thương dân, có chí lớn, luôn mong muốn đất nước được thịnh trị

+Trước yêu cầu của thời kỳ mới, một nhà lãnh đạo tài ba cần có những quyết sách lớn và quyết sách của Lý Công Uẩn chính là dời đô về Đại La

3. Kết bài:

+Hiểu rõ vai trò của người lãnh đạo anh minh có ý nghĩa vô cùng to lớn trong trường kì phát triển của dân tộc

+Hiện nay để lãnh đạo đất nước cũng cần một thủ lĩnh tài ba, biết nhìn xa trông rộng, có thực tài, có tấm lòng vì nước vì dân

Hãy nêu suy nghĩ của em về vai trò của những người lãnh đạo anh minh – mẫu 1

Để lãnh đạo được một đất nước vững mạnh và phát triển thì đòi hỏi đất nước đó phải có những người lãnh đạo anh minh, sáng suốt và có những quyết định đúng đắn đối với số phận của đất nước. Trong lịch sử, ta có thể thấy được vai trò của hai nhà lãnh đạo anh minh là Lí Công Uẩn và Trần Quốc Tuấn, thông qua hai văn bản lần lượt là Chiếu dời đô và Hịch tướng sĩ. Họ là hai tấm gương của những nhà lãnh đạo tuyệt vời, đem đến cho đất nước những trang sử chói lọi của quá khứ.

Xem thêm bài viết hay:  Top 2 bài Cảm nhận về bài thơ Lưu biệt khi xuất dương của Phan Bội Châu hay nhất - Ngữ văn lớp 11

Trước hết là vị vua của triều Lí – Lí Công Uẩn hay còn gọi là Lí Thái Tổ – khi dời đô về Thăng Long, ông đã đọc bài Chiếu dời đô trước mặt muôn dân và các quan trong chiều. Với Chiếu dời đô, Lí Công Uẩn đã đưa ra những lí lẽ, những lập luận sắc bén cho việc dời đô của mình. Mục đích của bài Chiếu theo như ông viết là do “vận mệnh trời”, “theo ý dân” và “thấy thuận thiên thì thay đổi”. Lí Thái Tổ không phải tự nhiên mà đưa ra ý định dời đô, cũng không hề rời đô theo ý muốn của riêng mình mà ông dựa vào tầm nhìn trước hoàn cảnh hiện tại mà đưa ra Chiếu dời đô.

Ta có thể thấy được nhà vua đã đưa ra những lập luận rất có căn cứ. Hoa Lư là vùng núi có địa thế hiểm trở, không thích hợp cho việc phát triển đất nước, còn Thăng Long có rất nhiều những lợi thế: “Ở vào trung tâm trời đất, được cái thế rồng cuộn hổ ngồi, đúng ngôi nam bắc đông tây, lại tiện hướng nhìn sông dựa núi, đất đai rộng mà bằng cao mà thoáng…” Không chỉ vậy, “dân cư khỏi chịu cảnh khốn khổ, ngập lụt, muôn vật cũng hết mực phong phú tốt tươi”, qua những lập luận này, ta có thể thấy đây là một vị vua lo cho đất nước, lo cho nhân dân, luôn lấy lợi ích của người dân đặt lên hàng đầu. Trước những lí lẽ như vậy, người nghe không thể nào không cảm thấy thuyết phục. Và những quyết định sáng suốt, anh minh của vua Lí Thái Tổ đã được chứng minh bằng sự thịnh vượng, phồn hoa của nhà Lý sau khi đã rời đô về Đại La. Ta thấy được tầm nhìn sâu rộng của một vị vua có tài lãnh đạo và biết nghĩ cho tương lai của đất nước.

Nếu như Lí Công Uẩn là một vị vua thương dân như con, vì dân mà dời đô thì Trần Quốc Tuấn cũng thể hiện lòng đau xót, thương dân của mình thông quan văn bản Hịch tướng sĩ. Bài Hịch là một áng “thiên cổ hùng văn” còn có giá trị to lớn đối với hiện tại. Thông qua bài Hịch tướng sĩ, Trần Quốc Tuấn thể hiện sự đau xót khôn nguôi của ông khi chứng kiến nước ta bị giặc đô hộ. Những câu chữ diễn tả nỗi đau xót ấy khiến cho người đọc không thể nào quên: “Ta thường tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối, ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa, chỉ căm tức chưa xả thịt, lột da, nuốt gan uống máu quân thù. Dẫu cho trăm thân này phơi ngoài nội cỏ, nghìn xác này gói trong da ngựa ta cũng vui lòng”. Trần Quốc Tuấn vô cùng căm phẫn, đau xót trước các thế lực thù địch muốn xâm chiếm đất nước của ông, cho nên ông đã viết bài Hịch để kêu gọi và khích lệ tướng sĩ tu chí để đánh giặc.

Không những bộc lộ lòng đau xót, vị vua này còn nói những lời lẽ đanh thép để thức tỉnh binh sĩ của mình: “Nay các ngươi nhìn chủ nhục mà không biết lo, thấy nước nhục mà không biết thẹn. Làm tướng triều định mà phải hầu quân giặc mà không biết tức; nghe nhạc thái thường để đãi yến ngụy sứ mà không biết căm” Đây rõ ràng không phải một vị vua ưa nịnh nọt, ông muốn những binh sĩ của mình tỉnh ngộ ra bằng những lời lẽ gay gắt, đánh trực tiếp vào lòng tự trọng của binh sĩ để họ thấy được cái sai của mình, từ đó mà quyết tâm đánh giặc, bảo vệ đất nước. Thông qua văn bản Hịch tướng sĩ, ta có thể thấy được Trần Quốc Tuấn không chỉ là vị vua anh minh mà còn rất khéo léo, rất tâm huyết, ông sử dụng nhiều cách khác nhau, từ bày tỏ đau xót, đến chỉ ra lỗi sai, và kêu gọi binh sĩ tích cực học tập Binh thư yếu lược do ông soạn thảo.

Thông qua hai văn bản “Chiếu dời đô” và “Hịch tướng sĩ”, ta có thể thấy Trần Quốc Tuấn và Lí Công Uẩn là hai vị vua hội tụ đầy đủ các yếu tố của một nhà lãnh đạo tài ba. Ở họ có một tầm nhìn vô cùng sâu rộng, có một lòng yêu nước thương dân và đặc biệt là sự anh minh, sáng suốt trong từng quyết định của mình đối với đất nước. Để đất nước ta có được sự phát triển thịnh vượng và vươn xa như ngày hôm nay thì không thể quên được những công lao của họ. Nhờ có những vị vua như họ mà đời sống người dân khi ấy mới được ấm no, hạnh phúc chứ không phải rơi vào hoàn cảnh đói khổ, lầm than. Mỗi triều đại lịch sử với các vị vua khác nhau nhưng chắc chắn họ phải là những người có tài năng thì mới có thể đứng lên bảo vệ đất nước, thay mặt nhân dân lãnh đạo đất nước.

Trong thời bình, để giúp đất nước đi lên và phát triển thì mỗi người lãnh đạo cũng cần có đầy đủ các tố chất như ở hai vị vua Trần Quốc Tuấn và Lí Công Uẩn. Tuy nhiên, sự tiến bộ của xã hội ngày nay đòi hỏi cả bộ máy quản lí nhà nước cũng đều phải được thắt chặt, được lãnh đạo từ trên xuống dưới để đạt được hiệu quả tốt nhất. Người lãnh đạo giỏi trong thế kỉ mới không chỉ là một người có trí tuệ và tài năng mà còn phải là một người phối hợp giỏi, cùng với bộ máy quản lí của nhà nước làm việc để quản lí và xây dựng đất nước. Họ có vai trò vô cùng quan trọng , không thể thiếu được đối với đất nước.

Một con người khi sinh ra không ai là có sẵn đầy đủ các tố chất để trở thành một nhà lãnh đạo. Nó phải là sự rèn luyện, trau dồi qua nhiều năm mà thành. Do đó, mỗi người hãy luôn tự cố gắng phấn đấu, tích lũy kiến thức, xây dựng cho mình các kĩ năng mềm thật chắc chắn để trở thành một người có tố chất, một người giúp ích cho xã hội.

Xem thêm bài viết hay:  Phân tích đoạn trích Nước Đại Việt ta hay nhất (4 mẫu) - Ngữ văn lớp 8

Hãy nêu suy nghĩ của em về vai trò của những người lãnh đạo anh minh – mẫu 2

Dân tộc Việt Nam đã trải qua hơn 4000 năm dựng nước và giữ nước. Để tạo nên trang sử hào hùng, đất nước ấm no hạnh phúc như ngày hôm nay, đó là nhờ vào một phần công lao to lớn của các vị anh hùng như Lý Công Uẩn, Trần Quốc Tuấn. Họ là những người lãnh đạo anh minh suốt đời vì vận mệnh của đất nước. Thông qua hai văn bản “Chiếu dời đô” và “Hịch tướng sĩ”, chúng ta sẽ thấy rõ những người lãnh đạo anh minh như Lí Công Uẩn và Trần Quốc Tuấn với vận mệnh đất nước.

“Chiếu dời đô” của Lí Công Uẩn là sự bày tỏ ý định từ Hoa Lư (Ninh Bình) ra thành Đại La (tức Hà Nội ngày nay) khi ông mới được triều đình tôn lên làm hoàng đế. Sau đó, ông đổi tên kinh đô thành Thăng Long. Đấy là năm thuận thiên thứ nhất – năm khởi đầu sự nghiệp lẫy lừng của nhà Lí – một triều đại có ý nghĩa hết sức quan trọng đưa văn hiến của nước nhà lên tầm cao. Phần mở đầu “Chiếu dời đô”, tuy là một bậc đế vương, là “thiên tử” nghĩa là có quyền thay trời quyết định mọi chuyện nhân gian, vậy mà vua Lý Thái Tổ vẫn viết những câu văn đặc biệt nhấn mạnh đến “ý dân”: “Trên vâng mệnh trời, dưới theo ý dân, nếu thấy thuận tiện thì thay đổi”. Trước hết, ông giải thích tại sao lại dời đô. Và bằng lập luận ngắn gọn nhưng sắc sảo, cùng với dẫn chứng thiết thực, nhà vua đã khẳng định: việc dời đô không phải là hành động, là ý muốn nhất thời của một người. Nó là biểu hiện cho xu thế tất yếu của lịch sử. Nhà vua đã chọn thành Đại La. Nơi đây không phải là Hoa Lư chật hẹp, mà là một nơi “trung tâm của trời đất”, nơi có thế “rồng cuộn hổ ngồi”, là nơi “đúng ngôi nam bắc đông tây” lại “nhìn sông dựa núi”, là nơi “rộng mà bàng, đất đai cao mà thoáng”. Ở nơi đây, nhân dân không phải sống chốn núi rừng hiểm trở, khắc nghiệt, đất nước có cơ hội phát triển kinh tế. Một nơi thuận lợi về tất cả mọi mặt, nhân dân được ấm no, thanh bình, như vậy, việc dời đô đã hợp với thiên thời địa lợi nhân hòa. Một vị vua với tầm nhìn sâu rộng có thể chỉ ra được những ưu thế đặc biệt của thành Đại La, ông hẳn là một người thông hiểu phong thủy, lịch sử, địa lý và còn có những suy tính lâu dài về chính trị. Hơn nữa, trong một chiếu thư trên dưới 200 chữ, nhà lãnh đạo này đã ba lần nhắc đến “dân” và “bách tính”, cho thấy quyết định dời đô của ông không xuất phát từ mục đích phòng ngự, mà xuất phát từ ý muốn cho “dân cư khỏi chịu cảnh khốn khổ ngập lụt” đời sống của vua quan và toàn dân cũng khởi sắc vì “muôn vật cũng phong phú tốt tươi”, lấy lợi ích của trăm họ làm nền tảng quốc gia. Dời đô ra Thăng Long là một bước ngoặt lớn, đánh dấu sự trưởng thành của dân tộc đại Việt. Kinh đô Thăng Long là cái nôi lập đế nghiệp cho muôn đời là nơi để cho sơn hà xã tắc được bền vững muôn đời. Đọc văn bản “Chiếu dời đô” ta cảm nhận Lý Công Uẩn không những là một vị vua có tài mà còn có đức, ông xứng đáng là vị vua anh minh bậc tiên đế muôn đời. Quyết định dời đô của ông là rất sáng suốt bởi vì kinh đô Đại La đã vững mạnh suốt 200 năm, có nghĩa là nhân dân thái bình, no ấm trong suốt thời gian đó. Thành Đại La chính là thủ đô Hà Nội ngày nay, là linh hồn của Việt Nam. Thể chế chính trị cũng được phân cấp quản lí rõ ràng, dựa vào luật pháp nhiều hơn là sự chuyên quyền độc đoán của một cá nhân. Công lao dời đô và xây dựng đất nước của Lý Thái Tổ thực sự lớn lao, lưu danh muôn thuở với non sông nước Việt.

Thời kì nhân dân Đại Việt phải đương đầu với quân Nguyên – Mông hung hãn, vị nguyên soái Trần Quốc Tuấn tức Hưng Đạo Vương đã ba lần cầm quân đánh bại quân xâm lược. Cái tâm và cái tài của một vị tướng, một người con yêu nước, trung với vua được thể hiện rõ nét trong áng văn bất hủ “Hịch tướng sĩ”. Trước năm 1285, ông đã viết bài Hịch này với mục đích kêu gọi tướng sĩ học tập binh thư, rèn luyện võ nghệ để chuẩn bị đánh quân xâm lược. Những lời lẽ đanh thép mà chan chứa tình cảm, những lí lẽ sắc bén mà đi vào lòng người đã chỉ ra cho tướng sĩ thấy tội ác của bọn sứ giặc và những việc cần làm để chống giặc. Trần Quốc Tuấn thể hiện tài năng của mình thông qua việc nhìn ra bộ mặt của quân giặc, đồng thời nhìn ra được thế của quân ta. Tác giả ngứa mắt khi thấy “sứ giặc đi lại nghênh ngang”, ngứa tai khi chúng “uốn lưỡi cú diều mà sỉ mắng triều đình”. Tác giả rất khinh bỉ, đã “vật hóa” chúng, gọi là “dê chó”, là “hổ đói”. Ông mượn những tấm gương bậc nghĩa sĩ trung thần đã xả thân vì đất nước, vì nhân dân để khích lệ lòng tự trọng ở các tướng sĩ. Ông cũng biết lấy những suy nghĩ, việc làm của mình để khơi dậy lòng yêu nước của họ. Viết cho tướng sĩ, cũng như để bày tỏ nỗi lòng của mình, Trần Quốc Tuấn không khỏi băn khoăn lo lắng, ông “thường đến bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối; ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa chỉ căm tức chưa xả thịt lột da, nuốt gan, uống máu quân thù”. Không chỉ căm thù giặc mà Trần Quốc Tuấn còn nguyện hi sinh thân mình cho sự nghiệp đánh đuổi ngoại xâm, giành lại độc lập cho dân tộc: “Dẫu cho trăm thân này phơi ngoài nội cỏ, nghìn xác này gói trong da ngựa, ta cũng vui lòng.” Ông quyết liệt phê phán những việc làm thái độ sai trái của tướng sĩ: thờ ơ, bàng quan trước vận mệnh Tổ quốc lâm nguy, quên mất trách nhiệm của mình đối với vận mệnh tổ quốc. Sau khi vẽ ra cái tiền đồ tối tăm của các tướng sĩ bê tha sau khi thua trận, mất nước, tác giả đã khuyên nhủ hết lời các tướng sĩ hãy tìm ra con đường chân chính mà tiến bước: học tập binh thư yếu lược để cứu nước. Lời tâm sự của Trần Quốc Tuấn với các tướng sĩ thật chân thành khiến các tướng sĩ một lòng khâm phục vị tướng tài vì xã tắc mà dám hi sinh, dám chiến đấu. Lịch sử đã chứng minh điều mà Trần Quốc Tuấn đã nói. Cùng với sự đồng lòng toàn dân toàn quân, Việt Nam đã giành thắng lợi trước kẻ thù hùng mạnh nhất thời kì đó. Trong đó vai trò lãnh đạo của người lãnh đạo đóng vai trò quyết định, ông được nhân dân Việt Nam tôn thờ gọi là Đức Thánh Trần.

Xem thêm bài viết hay:  Top 2 bài Phân tích cái tôi trữ tình của Hàn Mặc Tử qua bài Đây thôn Vĩ Dạ hay nhất - Ngữ văn lớp 11

Hơn một ngàn năm qua, lịch sử nước Việt đã trải qua bao sóng gió thăng trầm, nhưng công lao của Lý Thái Tổ và Trần Hưng Đạo mãi mãi là những vết son không phai trong văn học và lịch sử việt Nam. Qua hai áng văn “Chiếu dời đô” và “Hịch tướng sĩ”, chúng ta càng hiểu rõ hơn vai trò của người lãnh đạo anh minh có ý nghĩa vô cùng to lớn trong trường kì phát triển của dân tộc và thời nào cũng vậy dân tộc Việt Nam. Họ là tấm gương sáng ngời để đời sau soi vào đó mà học tập. Chúng ta hãy tiếp nối hào khí ngút trời của cha ông ta cùng xây dựng lên một Việt Nam giàu mạnh phồn thịnh, hòa nhập vào sự phát triển của thế giới nhé!

Hãy nêu suy nghĩ của em về vai trò của những người lãnh đạo anh minh – mẫu 3

Có thể nói dân tộc Việt Nam đã trải qua hơn 4000 năm dựng nước và giữ nước, đó là một truyền thống rất đáng tự hào. Đất nước sống đời thái bình, no ấm chính là nhờ tài đức của các vị vua, các vị tướng sĩ văn võ song toàn như Lý Công Uẩn (tức vua Lý Thái Tổ), Trần Quốc Tuấn (tức Hưng Đạo Vương). Họ là những người lãnh đạo anh minh suốt đời vì vận mệnh của đất nước. Dựa vào văn bản “Chiếu dời đô” Lý Công Uẩn và văn bản “Hịch tướng sĩ” của Trần Quốc Tuấn chúng ta sẽ làm sáng tỏ điều đó.

Như chúng ta đã biết, Lý Công Uẩn vốn là người thông minh nhân ái, có chí lớn và lập được nhiều chiến công. Vì thế, khi Lê Ngọa Triều mất, ông được triều thần tôn lên làm vua lấy niên hiệu là Thuận Thiên.

Lý Công Uẩn lên ngôi đã lập tức quyết định dời kinh đô Hoa Lư ra thành Đại La, bởi nhà vua hiểu rõ Đại La chính là vùng đất mà nhân dân sẽ sống no ấm, đất nước được hưng thịnh đời đời. Lý Công Uẩn quyết định như thế không phải theo ý riêng mình mà chính là lo cho vận nước, hợp với lòng dân.

Người viết “Chiếu dời đô” bày tỏ mục đích dời đô là: “vận mệnh trời”, “theo ý dân”, “thấy thuận thiên thì thay đổi”, dời đến nơi “trung tâm trời đất”, tiện hướng “nhìn sông dựa núi”,… “nơi đây là thánh địa”. Đọc văn bản “chiếu dời đô” ta cảm nhận Lý Công Uẩn không chỉ là 1 vị vua có tài mà còn có đức, ông xứng đáng là vị vua anh minh bậc tiên đế muôn đời. Quyết định dời đô của ông là rất sáng suốt bởi vì kinh đô Đại La đã vững mạnh suốt 200 năm, có nghĩa là nhân dân thái bình, no ấm trong suốt thời gian đó (kinh đô Đại La – Thăng Long – chính là thủ đô Hà Nội ngày nay, linh hồn của Việt Nam)

Thời kì nhân dân Đại Việt phải đương đầu với quân Nguyên – Mông hung hãn, vị nguyên soái Trần Quốc Tuấn tức Hưng Đạo Vương đã ba lần cầm quân đánh bại quân xâm lược. Ông xứng đáng là một vị anh hùng của dân tộc.

Trước năm 1285, Trần Quốc Tuấn đã viết bài “Hịch tướng sĩ” với mục đích kêu gọi tướng sĩ học tập binh thư, rèn luyện võ nghệ để chuẩn bị đánh quân xâm lược. Bài Hịch có sức thuyết phục rất cao bởi lập luận sắc bén, có tình có lý.

Trong bài Hịch Trần Quốc Tuấn sáng suốt nêu gương các trung thần nghĩa sĩ của Trung Quốc dễ đánh vào lòng tự tôn của các tướng sĩ dưới quyền. Ông nhắc lại cách đối xử thân tình của mình đến với họ, chỉ cho họ thấy tội ác của giặc, bày tỏ tấm lòng của mình trước vận mệnh của đất nước.

Trần Quốc Tuấn đã phản ánh phê phán sự bàng quan vô trách nhiệm của các tướng sĩ. Vạch ra nguy cơ nước mất nhà tan, rồi lật ngược vấn đề: Nếu tướng sĩ lo học tập binh thư, rèn luyện võ nghệ thì mọi người được sử sách lưu danh.

Với cách lập luận như thế, Trần Quốc Tuấn đã khơi dậy, khích lệ lòng yêu nước, căm thù giặc của tất cả mọi người.

Trần Quốc Tuấn vốn là con nhà võ nhưng thấu đáo sự học làm người, nắm rõ “tam cương, ngũ thường”. Ông xứng đáng là 1 tấm gương để chiến sĩ noi theo. Trong kho tàng văn học nước nhà “Hịch tướng sĩ” của Trần Quốc Tuấn xứng đáng là một “An thiên cỗ hùng văn”, “tiếng kèn xung trận hào hùng”, mãi mãi nhân dân thời Trần (thế kỉ 13) và mọi đời sau sẽ không bao giờ quên công đức của ông.

Nói tóm lại, lịch sử đất nước Việt Nam có những trang vàng chói lọi là nhờ vào những vị vua, vị tướng anh minh như Lý Công Uẩn, Trần Quốc Tuấn, Nguyễn Trãi,… Họ là tấm gương sáng ngời để đời sau soi vào đó mà học tập. Chúng ta tưởng nhớ đến Bác Hồ đã lãnh đạo toàn dân giành độc lập ngày hôm nay. Chúng ta chắc chắn Bác đã noi gương những người đi trước. Sống xứng đáng với sự hi sinh của họ. Bác đã từng nói: “Các vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”. Và người cũng đã ân cần dạy tuổi trẻ “có tài mà không có đức thì là người vô dụng. Có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó”.

Xem thêm các bài Văn mẫu thuyết minh, phân tích, dàn ý tác phẩm lớp 8 khác:

Mục lục Văn mẫu | Văn hay lớp 8 theo từng phần:

viet-bai-tap-lam-van-so-7.jsp

Các loạt bài lớp 8 khác

Viết một bình luận