Phân tích tình huống nhặt vợ trong tác phẩm Vợ nhặt hay nhất

Đề bài: Hãy nêu tình huống “nhặt vợ” trong truyện “Nhặt vợ” của Kim Lân, qua đó nhận xét thái độ của nhà văn đối với con người và hoàn cảnh xã hội đương thời bộc lộ qua tình huống đó. câu chuyện độc đáo này.

Viết về nạn đói năm Đinh Dậu, “Vợ nhặt” của Kim Lân là một truyện ngắn đặc sắc và độc đáo nhất trong nền văn xuôi Việt Nam hiện đại.

Với cuộc sống phong phú nơi thôn quê và những con người chân chất, với tấm lòng nhân hậu, bao dung, câu chuyện về anh cày thuê thô kệch “nhặt” vợ đã được tác giả kể lại một cách cảm động và giàu tình cảm. Thủ pháp phân tích tâm lí nhân vật và xây dựng tình tiết – cốt truyện giàu kịch tính chính là giá trị nghệ thuật và tư tưởng đích thực được thể hiện trong tình huống “nhặt” vợ của ông đồ.

Tóm tắt tình huống “nhặt” được vợ:

Chú Trang mồ côi cha, ở với mẹ già trong xóm. Nhà nghèo, ông làm nghề đánh xe bò thuê. Đôi mắt “tí hon”, khuôn mặt “thô kệch”, cái đầu “trọc nhẵn nhụi” lại có thói quen “vừa đi vừa lảm nhảm…”. Tưởng chừng anh sẽ nằm bẹp đến già. Có ai ngờ… chỉ “vừa tầm chứ chưa hai lần”, một câu hát rất lãng mạn, bốn bát bánh ở chợ tỉnh, đám cưới chẳng ra gì mà anh lại “rước” được vợ về. Đó là một cô gái, quần áo rách bươm như tổ đỉa nhưng lại “lườm nguýt” khiến Tràng “thích thú”.

Tràng “nhặt” được vợ vào lúc nạn đói đã và đang diễn ra khủng khiếp. Người chết đói như ngả rạ. Đám đông chạy đói “xám như ma”. Mùi xác người… Đàn quạ bay lượn trên trời như đám mây đen, “gào lên từng hồi”. Xóm sống “bệnh xơ xác”. Tràng “nhặt” được vợ mà cảm thấy “lựa chọn” vì giữa nạn đói, nuôi thân còn khó khăn, nhưng “vẫn qua”. Trên đường “vợ tân, tân nương” về nhà, thị “hưng phấn” khác thường, “tươi cười”, “mắt sáng long lanh”,… Còn Thị thì “mắc cỡ hay ho”.

Xem thêm bài viết hay:  (50+ mẫu) Nhân ngày 20-11 kể cho các bạn nghe về một kỉ niệm đáng nhớ giữa mình và thầy cô giáo cũ (hay nhất)

Tràng “nhặt” được vợ khiến cả xóm kinh ngạc. Mấy đứa ưỡn cổ kêu: “Vợ chồng mình buồn cười quá”. Có người “thở dài”, có người “thầm thì” hỏi. Một người khác “cười lắc”. Có người lo lắng, thương hại cho Trang: “Cõi đời này còn mang lại món nợ đời”. Bà cụ Tứ, mẹ Trang còn bất ngờ hơn khi thấy một người phụ nữ lạ mặt “đứng bên giường bệnh” của con trai mình. Bà vừa xót, vừa mừng, vừa lo: “Biết mà nuôi nhau mà qua cơn đói khát này”. Buổi tối “đám cưới” của Tràng thắp hai hào dầu, nhưng trong đêm khuya, tiếng “khóc dở mếu dở” của những gia đình mới có người chết đói càng nghe rõ hơn.

Mẹ chồng chỉ còn nồi cháo cám mừng tân hôn. Tiếng trống thuế vẫn vang lên “hối hả”. Và trên đê Sộp, dân đói ầm ầm đi, trước mặt là lá cờ đỏ to tướng!

Thái độ của nhà văn…

Tình huống “nhặt” vợ được Kim Lân sáng tạo với cảm hứng nhân văn sâu sắc. một. Anh đã dành những tình cảm tốt đẹp nhất của mình cho những người nghèo khó và thiếu thốn. Ông cảm thông cho nỗi đau khổ của dân tộc trước thảm họa năm Đinh Dậu “người chết như ngả rạ”. Anh cảm thấy tiếc cho một cô gái đã bị nạn đói cướp đi phần lớn của cải. Không còn tên nữa. Không còn cha mẹ, anh chị em. Không quê hương gia đình. Khuôn mặt “gầy tong teo”, quần áo rách như tổ đỉa. Đói thì mất duyên, “cắm bốn bát bánh”. Giá trị và nhân phẩm của người con gái đã trở nên rẻ rúng và đáng thương! Trước mắt cô là vực thẳm bi kịch, nào là chết đói, nào là phải “theo trai”, phải cưới Tràng…

Xem thêm bài viết hay:  [Năm 2022] Vẻ đẹp bi tráng của hình tượng người lính trong bài thơ Tây Tiến xem nhiều nhất (8 mẫu)

Kim Lân rất tốt bụng. Anh tả ánh mắt và nụ cười của Trang rất đẹp, rất phúc hậu. Anh phát hiện ra một chút duyên dáng và nữ tính của thị. Đôi mắt cười mắng yêu và cái trán trong đêm tân hôn của Tràng được nhà văn miêu tả đầy ý nghĩa. Hạnh phúc đến với Tràng tuy muộn, dù phải “rước” phải vợ nhưng nó thật đáng tự hào và trân trọng biết bao. Anh mua hai xu dầu thắp đêm tân hôn, để xua tan bóng tối, nghèo đói, cô quạnh, để mừng “vợ mới”, soi sáng hạnh phúc mai sau. Tình thế hai hào dầu giàu ý nghĩa nhân đạo.

Kim Lân ca ngợi những phẩm chất tốt đẹp của nhân dân lao động. Ông diễn tả những giọt nước mắt vừa lo vừa vui của người mẹ nghèo khi đón được cô con dâu mới. Niềm tin “ai giàu ba họ, ai khó ba đời”; Nồi cháo cám đắng mà mẹ ngày xưa gọi là “cháo ngon ngon”, những câu chuyện vui, chuyện sau này mẹ chồng kể cho con dâu nghe khi ăn cháo cám. Tất cả thể hiện một cách cảm động tình yêu thương con người, niềm tin vào con người của tác giả

Về thực trạng xã hội hiện tại, qua tình huống Tràng “nhặt vợ”, Kim Lân căm ghét lên án, vạch trần tội ác của Nhật – Pháp bắt nhân dân ta nhổ lúa trồng đay, cướp bóc, sưu cao thuế nạn đói khủng khiếp năm Ất Dậu 1945, khiến hơn hai triệu người chết đói! Nạn đói đã làm mất giá trị con người. Không cần màn cưới, chỉ cần bốn bát bánh thầu dầu là có thể “rước” được vợ.

Xem thêm bài viết hay:  [Năm 2022] Ý kiến về quan niệm Văn chương có loại đáng thờ Có loại không đáng thờ xem nhiều nhất

Qua tình tiết khi trống thuế khua, nàng dâu thông báo rằng ở phía Bắc Bắc Giang, Thái Nguyên, người ta không chịu nộp thuế, còn phá kho thóc của Nhật – chia cho dân đói,… Và Đám đông người dân đói khổ kéo nhau đi dọc đê Sốp, trước mặt họ là lá cờ đỏ to lớn tung bay phấp phới. Kim Lân đã thể hiện rất hay tình cảm của hàng triệu người nông dân Việt Nam đối với cách mạng. Cứu đói, cứu khổ, cứu đời đem lại độc lập tự do cho dân tộc chính là sự xuất hiện của lá cờ đỏ ấy. Qua hình ảnh lá cờ đỏ, cảm hứng nhân đạo của truyện “Nhặt vợ” được nhân lên thành cảm hứng nhân văn cao đẹp.

Xem thêm các bài văn mẫu lớp 12 luyện thi THPT Quốc gia:

vo-nhat.jsp

Các bộ đề lớp 12 khác

Viết một bình luận